0
2026-07-24

Các loại van giảm áp & Giải pháp khắc phục các hư hỏng thường gặp

1. Van cứu trợ có hai loại: tác động trực tiếp và vận hành bằng phi công.

Tác động trực tiếp: Độ nhạy cao, phản ứng nhanh, tốc độ dòng chảy nhỏ hơn; thích hợp cho van an toàn và van điều khiển từ xa.
Vận hành bằng phi công: Độ ổn định tốt, đặc tính đóng mở tốt hơn; thích hợp cho van điều chỉnh áp suất.

Công dụng chính của van xả như sau:
· Là van xả, duy trì áp suất không đổi trong hệ thống thủy lực;
· Là van an toàn, chống quá tải cho hệ thống thủy lực;
· Điều chỉnh áp suất từ ​​xa;
· Đa giai đoạn điều chỉnh áp suất cao và thấp trong hệ thống;
· Kết hợp với van điện từ, để dỡ tải hệ thống thủy lực;
· Là van phanh, để đệm và hãm bộ truyền động;
· Là van nạp và van áp suất ngược.

2. Yêu cầu lắp đặt và các lỗi thường gặp của van xả

(1) Yêu cầu lắp đặt
· Môi trường sử dụng trong hệ thống thủy lực phải được lọc, có độ chính xác lọc ít nhất là 20µm;
· Độ nhám bề mặt nối với van phải đảm bảo các yêu cầu sau; yêu cầu về độ phẳng là 0,01/100mm;
· Tấm kết nối của van tấm và lỗ lắp của van chèn phải được gia công đúng theo kích thước lắp đặt trong mô tả sản phẩm và phải đảm bảo độ chính xác; mỗi cửa nối của van ống phải có vòng đệm kín;
· Vít dùng để lắp đặt van phải là loại vít có độ bền cao (cấp 10.9).
(2) Các lỗi thường gặp

A. Loại tác động trực tiếp

• Sự vừa khít giữa lõi van và mặt tựa dẫn đến rò rỉ quá mức hoặc không thể điều chỉnh áp suất;
• Chiều dài lò xo không đủ và độ cứng kém cũng cản trở việc điều chỉnh áp suất.

B. Vận hành thí điểm

• Tắc lỗ giảm chấn khiến lõi van chính bị kẹt ở vị trí mở; uốn cong hoặc gãy lò xo hồi lưu lõi van chính; gãy lò xo điều chỉnh áp suất của van thí điểm; dẫn đến không điều chỉnh được áp suất;
• Độ khít giữa lõi van chính và ống bọc van kém; độ kín giữa nón van thí điểm và van kém; lò xo điều chỉnh áp suất không đủ chiều dài, bị uốn cong hoặc độ cứng kém; tất cả những điều này có thể khiến áp suất không được điều chỉnh ở mức cao;
• Lõi van chính bị kẹt đột ngột ở vị trí đóng trong quá trình vận hành; không mở được lõi van điều khiển hoặc lò xo điều chỉnh áp suất bị cong, kẹt; tất cả những điều này có thể gây ra sự gia tăng áp lực đột ngột;
• Lõi van chính bị kẹt đột ngột ở vị trí mở trong quá trình vận hành; tắc nghẽn đột ngột của lỗ giảm chấn; lò xo điều chỉnh áp suất bị gãy đột ngột; tất cả những điều này có thể gây ra sự giảm áp suất đột ngột;
• Hư hỏng vòng chữ O hoặc miếng đệm kết hợp, gây rò rỉ bên ngoài;
• Lắp lõi van không đúng cách, lò xo điều chỉnh áp suất bị uốn cong hoặc thanh điều chỉnh lệch vị trí dễ gây ra tiếng ồn và rung lắc.